VT và SVT

Rối loạn nhịp tim là một trong những điều nguy hiểm nhất có thể xảy ra với một người chưa bao giờ hoặc chưa bao giờ bị bệnh tim. Điều này thường xảy ra ở những bệnh nhân bị đau tim, đột quỵ hoặc tăng huyết áp.

"VT" và "SVT" có nghĩa là "nhịp nhanh thất" và "nhịp nhanh trên thất". Nhịp tim của "nhịp tim nhanh" vượt quá 100 lần mỗi phút. "Tâm thất" có nghĩa là hợp đồng tâm thất. Khi điều này xảy ra, nó là loại rối loạn nhịp tim nguy hiểm nhất vì nó có thể gây ra cơn đau tim.

VT và SVT có thể được đánh giá bằng ECG hoặc siêu âm tim. Với thiết bị này, các nút được gắn vào các khu vực khác nhau của ngực, và sau đó biểu đồ được vẽ. Các chuyên gia y tế cũng có thể sử dụng máy theo dõi nhịp tim để theo dõi chấn thương tim một cách thường xuyên. Điều này cho phép các bác sĩ và y tá nhìn thấy nhịp tim trên màn hình ngay lập tức.

Một số khác biệt có thể được phân biệt giữa VT và SVT, đòi hỏi kiến ​​thức về sự khác biệt giữa hai rối loạn nhịp tim và các thủ tục thích hợp. Trong SVT, thuốc nút AV có tác dụng bình thường hóa chứng rối loạn nhịp tim. Nhưng trong VT nó không hoạt động vì nó làm xấu đi tình trạng của bệnh nhân.

Sự phổ biến của VT được gây ra bởi một số yếu tố, chẳng hạn như trục tây bắc, các phức hợp có độ lệch rất cao, sóng P và phức bộ QRS với các tỷ lệ khác nhau. Ngoài ra còn có một shot tổng hợp tạo ra phức hợp lai. Hình ảnh cũng rõ ràng. Dấu hiệu Brugada và dấu hiệu Josephson làm tăng khả năng VT nổi lên. VT được gây ra bởi một số yếu tố, chẳng hạn như một người trên 35 tuổi, thiếu máu cục bộ, tiền sử đau tim, CHF, tiền sử mở rộng tim và cuối cùng là tiền sử gia đình tử vong do tim nhanh.

Trong SVT, nếu có khoảng PR dưới 120 mili giây, sóng rộng và sóng delta, thì đây có thể là rối loạn nhịp tim SVT. Nếu bệnh nhân bị nhịp tim nhanh, cũng có thể bị SVT.

Nếu một người có mạch đập mạnh hơn 100 lần mỗi phút, anh ta hoặc cô ta nên đến bệnh viện gần nhất vì nó có thể gây ra VT hoặc SVT. Như chúng ta đã biết, phòng bệnh hơn điều trị. Và mỗi khi chúng ta nói về trái tim, đó là một trong những cơ quan quan trọng nhất mà chúng ta cần chú ý.

Tóm tắt:

1. Từ VT có nghĩa là "nhịp nhanh thất" và "SVT" có nghĩa là "nhịp nhanh trên thất". 2. Thuốc nút AV trong SVT có tác dụng bình thường hóa chứng loạn nhịp tim. Nhưng trong VT nó không hoạt động vì nó làm xấu đi tình trạng của bệnh nhân. 3. VT, dấu hiệu Quebecada, dấu Josephson, v.v ... có thể thấy rõ vì SVT, phức bộ QRS rộng, phạm vi PR dưới 120 ms, v.v.

Tài liệu tham khảo